19/04/2018

TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT NHÂN MỘT NĂM SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM




Sự việc

Sự kiện Đồng Tâm xảy ra một năm trước đây đã đánh dấu bước ngoặt mới trong phong trào phản kháng của người dân đối với chính sách đất đai của nhà nước. Nếu trước đó nhiều dân oan mất đất chỉ biết kéo nhau đi khiếu kiện đông người một cách ôn hòa, thì ở Đồng Tâm lần đầu tiên dân chúng trong một xã đã tổ chức quy củ dùng thế hợp pháp kết hợp dân vận, binh vận, lập làng chiến đấu, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Một năm sau sự kiện Đồng Tâm, tuy sự đối đầu giữa người dân và chính quyền tạm thời lắng dịu, nhưng ngòi nổ của sự phản kháng và bất ổn xã hội vẫn chưa được tháo gỡ. Người dân không chỉ riêng ở Đồng Tâm, mà ở khắp mọi nơi trong cả nước, đều thấy rõ các giải pháp của chính quyền từ trung ương đến địa phương hầu như chỉ nhằm đối phó sự phản kháng một cách tạm thời để răn đe hoặc xoa dịu. Gốc rễ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, đó chính là chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Vấn nạn

Đất đai luôn được xem là loại tài sản đặc biệt, nên quốc gia nào cũng xem trọng và đặt chính sách đất đai vào vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Tại Việt Nam, theo mô hình xã hội chủ nghĩa từ năm 1955 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, chế độ sở hữu tư nhân đối với đất đai chấm dứt, và thay vào đó quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này thuộc về “toàn dân”, thông qua vai trò quản lý tập trung của Nhà nước. Đây là một chính sách đất đai hoàn toàn dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế-chính trị Marx-Lenin.

Sau hàng chục năm hiện hữu ở nước ta, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được cưỡng ép áp dụng vào đời sống xã hội và kinh tế nhằm thực hiện một kế hoạch chính trị hoang tưởng gọi là “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Kết quả là khủng hoảng kinh tế-xã hội xảy ra nghiêm trọng, khiến Đảng Cộng sản phải tiến hành đổi mới kinh tế theo theo hướng thị trường. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai tiếp tục gây ra nhiều trở ngại hơn cho sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế và đe dọa sự ổn định của cả xã hội.

Gắn liền và xuất phát từ quan niệm “sở hữu toàn dân” là định chế “quyền sử dụng đất”, một khái niệm đặc biệt về quyền tài sản chỉ có ở các quốc gia thuộc khối Liên Xô cũ và nay còn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam. Tuy được luật pháp công nhận đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (tức là chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, v.v…) tương tự với quyền sở hữu các tài sản thông thường khác, người có quyền sử dụng đất lại không thể định đoạt trọn vẹn mảnh đất của mình, mà trái lại tùy thuộc vào quyết định tối hậu của Nhà nước trong vai trò đại diện toàn dân quản lý toàn bộ đất đai trên lãnh thổ quốc gia.
Người nông dân luôn đối diện nguy cơ bị tước đoạt đất đai bất cứ lúc nào, và giấc mơ người cày có ruộng của họ không bao giờ trở thành sự thật.

Việc quy hoạch sử dụng đất dù trên lý thuyết thuộc về nhà nước, nhưng trên thực tế là do các chủ đầu tư khởi ra và vận động để có sự quyết định của quan chức các cấp, trước nhất là quan chức các địa phương. Điều này khiến quan chức trở thành loại cường hào, ác bá còn đáng sợ hơn cả trong chế độ phong kiến. Họ biến mình thành công cụ của giới đầu tư bất lương khi hỗ trợ các dự án xây dựng địa ốc hoặc công trình hạ tầng bằng cách tước đoạt đất đai của người dân và đền bù với giá rẻ mạt.

Tình trạng lạm dụng quyền hành biến đất công thành đất tư, bồi thường di dời không thỏa đáng để trục lợi, nhận hối lộ để phê duyệt và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong những dự án kinh doanh bất động sản đã và sẽ tiếp tục xảy ra trầm trọng, tạo nên bất mãn xã hội ngày càng sâu rộng. Điều này là nguyên nhân chính của nạn khiếu kiện đông người khắp cả nước, hay còn gọi là nạn dân oan.

Nguyên nhân

Cốt lõi của tất cả những trở ngại nêu trên bắt nguồn từ sự kết hợp khiên cưỡng hai khái niệm vốn dĩ khác biệt nhau để tạo nên định chế quyền sử dụng đất, đó là khái niệm “quyền sở hữu tài sản” theo tư duy pháp lý và khái niệm “sở hữu toàn dân” theo tư duy chính trị-ý thức hệ.

Về phương diện pháp lý, chủ thể của quyền sở hữu tài sản lẽ ra chỉ là thể nhân hoặc pháp nhân, mà danh tính và lý lịch pháp lý được xác định cụ thể, trong khi “toàn dân” chỉ đơn thuần là một ý tưởng không có khuôn mặt rõ ràng và chưa bao giờ được công nhận là chủ thể pháp lý riêng biệt trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào trên thế giới.

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung được xây dựng trên nền tảng lý luận Marx-Lenin, tư duy chính trị thắng thế, nên sự tác hại của sở hữu toàn dân đối với đất đai bị bưng bít khiến người ta có cảm giác nó không tạo ra nhiều vấn đề nan giải cho xã hội. Hơn nữa, do nền kinh tế được hoạch định theo kế hoạch tập trung, nên mọi bất đồng và bất cập đều có thể giải tỏa bằng mệnh lệnh hành chính từ nhà nước.

Tuy nhiên, từ khi chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường được áp dụng, yếu tố thị trường sẽ ngày càng chi phối sự phát triển, tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của quan niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Thực tế đã chứng minh rằng việc cưỡng lại yêu cầu này là nguyên nhân khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa.

Yêu cầu

Trước tình hình nghiêm trọng nêu trên, chúng tôi - các tổ chức xã hội dân sự và người Việt trong và ngoài nước - đồng lòng đưa ra tuyên bố như sau:

           Thứ nhất, quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai cần được sớm công nhận. Do đó, cần quy tụ ngay các chuyên gia kinh tế và pháp lý để nghiên cứu một cách khoa học khả năng chấp nhận tư hữu hóa các loại đất được sử dụng vào mục đích kinh doanh để phát triển kinh tế, hơn là tiếp tục duy trì quan niệm sở hữu toàn dân chung chung mơ hồ đối với đất đai như hiện nay.

Thứ hai, cần chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp để công nhận chế độ đa sở hữu đối với đất đai, trong đó có sở hữu nhà nước, sở hữu của các tổ chức và sở hữu tư nhân.

Thứ ba, trong khi chờ đợi thay đổi luật lệ và chính sách, cần sớm công nhận quyền sử dụng đất như một loại quyền tài sản mà nhà đầu tư và người sử dụng đất phải thỏa thuận theo nguyên tắc thuận mua vừa bán, dựa trên giá cả thị trường, nếu nhà đầu tư muốn sử dụng cho các dự án nhằm mục đích phát triển kinh tế. Cần chấm dứt ngay nạn cưỡng bức thu hồi đất mà chính quyền ở các địa phương đang thực hiện. Việc giải quyết các tranh chấp đất giữa người dân và giới đầu tư phải dựa trên nguyên tắc công bằng, bảo đảm lợi ích của người dân, của nhà đầu tư và lợi ích công cộng.

Lập ngày 15 tháng 4 năm 2018


Tổ chức và cá nhân ký tên Đợt 1:

Tổ chức:
1. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, do ông Lê Thân đại diện
2. Diễn đàn Xã hội Dân sự, do TS Nguyễn Quang A đại diện
3. Nhóm Vì Môi Trường, do Nguyễn Thị Bích Ngà đại diện


Cá nhân:
1. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu văn hoá, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
2. Nguyễn Quang A, TS khoa học, Hà Nội
3. Nguyễn Đăng Quang, Cựu Đại tá CAND, Hà Nội.
4. Dương Sanh, Cựu giáo chức, Vạn Ninh, Khánh Hòa.
5. Nguyễn Nguyên Bình, Nhà văn, ở Hà Nội.
6. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng TK Hội trí thức yêu nước TpHCM, Chủ nhiệm danh dự CLB LHĐ
7. Hạ Đình Nguyên, cựu tù Côn Đảo, nhà báo, Thành viên CLB LHĐ
8. Bùi Tiến An, hưu trí, T.V. CLB LHĐ
9. Vũ Trọng Khải, PGS.TS, nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp, Sài Gòn
10. Lê Thân, cựu tù nhân Côn Đảo, cư trú tại Nha Trang
11. Lê Công Định, luật gia, cựu Tù nhân lương tâm, Sài Gòn
12. Hoàng Hưng, nhà thơ-dịch giả, Sài Gòn
13. Hoàng Dũng, PGS.TS, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, TPHCM
14. Đào Tiến Thi, Thạc sĩ Ngữ văn, Hà Nội
15. Phan Quốc Tuyên, Kỹ sư tin học, Genève, Thụy Sĩ
16. Bùi Minh Quốc, Nhà báo, Đà Lạt
17. Trần Ngọc Sơn, Kỹ sư, Pháp
18. Nguyễn Thị Thanh Hằng, Dược sĩ, Pháp
19. Tống Văn Công, Nhà báo, nguyên TBT Báo Lao Động, hiện ở Hoa Kỳ
20. Mai Hiền, Nhà báo, hiện ở Hoa Kỳ
21. Hà Văn Thùy, Nhà văn, Sài Gòn
22. Nguyễn Đào Trường, 65 phố Đinh Văn Tả, phường Bình Hàn, TP Hải Dương.
23. Nguyễn Thị Thanh Bình, Nhà văn
24. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ Hán Nôm, Hà Nội.
25. Hà Quang Vinh, hưu trí, ngụ tại phường 15, Quận 11 , Tp HCM
26. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng (CLB Phan Tây Hồ)
27. Trần Rạng, Nhà giáo, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn
28. Nguyễn Văn Lịch, Kỹ sư cơ khí, Đống Đa,Hà Nội.
29. Ngô Thị Kim Cúc, Nhà văn-Nhà báo, Sài Gòn
30. Lê Khánh Luận, TS, nguyên giảng viên ĐH Kinh tế, Tp.HCM 
31. Nguyễn Văn Tạc, Giáo học hưu trí, Hà Nội
32. Trần Kế Dũng, sống tại Úc Châu (Australia )
33. Nguyễn Thị Khánh Trâm, hưu trí, TP HCM
34. Đào Minh Châu, Hà Nội
35. Nguyễn Hải Sơn, Công nhân, CHLB Đức
36. Nguyễn Trọng Bách, Kỹ sư, Nam Định
37. Mã Lam, Nhà thơ, Sài Gòn
38. Nguyễn Đình Cống, Giáo chức hưu trí, Hà Nội.
39. Hồ Quang Huy, Kỹ sư đường sắt, Nha Trang, Khánh Hòa
40. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TpHCM
41. Trần Bang, kỹ sư, cựu chiến binh, Sài Gòn
42. Phạm Duy Hiển, Dịch giả, bút danh Phạm Nguyên Trường, Vũng Tàu
43. Phạm Toàn, Nhà nghiên cứu Giáo dục, Hà Nội
44. Hà Sỹ Phu, TS Sinh học, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
45. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Sài Gòn. 
46. Võ Văn Tạo, Nhà báo, Nha Trang
47. Mai Thái Lĩnh, Nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ - Đà Lạt.
48. Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Sài Gòn
49. Vũ Thế Khôi, Nhà giáo Ưu tú, Ba Đình - Hà Nội
50. Trần Tiến Đức, Nhà báo độc lập, Đạo diễn phim tài liệu và truyền hình, Hà Nội
51. Tiêu Dao Bảo Cự, Nhà văn tự do, Đà Lạt
52. Huỳnh Sơn Phước, Nhà báo, Sài Gòn
53. Nguyễn Văn Tạc, Giáo học hưu trí - Hà Nội 
54. Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An
55. Ngô Kim Hoa, Nhà báo, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
56. Lại Thị Ánh Hồng, Nghệ sĩ - hưu trí, TV CLB LHĐ
57. Ngụy Hữu Tâm, Dịch giả ở Hà Nội
58. Phan Văn Hiến, cựu Giáo chức, Hà Nội
59. Nguyễn Văn Vỵ, PGS, TS, Giáo viên, Hà nội
60. Lê Xuân Thiêm, Kỹ sư Xây dựng, SG
61. Đào Tấn Phần, trường THPT Trần Quốc Tuấn, xã Hòa Định Đông, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
62. Lê Đoàn Thê, số 32, ngõ 252 Minh Khai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nôi. 
63. Lại Nguyên Ân, Nhà nghiên cứu Văn học, Hà Nội
64. Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh Dự Đại học Liège, Bỉ, sống ở Sài Gòn
65. Nguyễn Hữu Tuyến, Kỹ sư hưu trí, P12, Q10, Sài Gòn 
66. Lưu Hồng Thắng, Công nhân, Hoa Kì
67. Nguyễn Thị Bích Ngà, Nhà báo, Q3, Sài Gòn.    
68. Nguyễn Đan Quế, Bác sĩ, Sai Gòn.
69. Tô Oanh, Giáo viên THPT- hưu trí, TP Bắc Giang
70. Phùng Hoài Ngọc, cựu Giảng viên Đại học, tỉnh An Giang
71. Nguyễn Ngọc Xuân, Nông dân đã nghỉ hưu, Xuyên Mộc, Bà Rịa vũng Tàu. 
72. Lê Hải, Nhà nhiếp ảnh, Đà Nẵng
73. Lý Đăng Thạnh, người chép Sử, Sài Gòn. 
74. Hoàng Văn Lạc, Nhà giáo, Bà Rịa - Vũng Tàu.
75. Nguyễn Hồng Khoái, Chuyên viên tư vấn tài chính. Quận Tây Hồ, Hà Nội
76. J.B Nguyễn Hữu Vinh, Nhà báo tự do, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội. 
77. Lê Mai Đậu, Cán bộ hưu trí, Trung Hoà, Từ Liêm, Hà Nội. 
78. Nguyễn Thuý Hạnh, Nhà báo tự do, sống tại Hà Nội. 
79. Huỳnh Ngọc Chênh, Nhà báo độc lập, sống tại Hà Nội.
80.Trần Minh Quốc, Nhà giáo - hưu trí, Sài Gòn
81. Nguyễn Quang Nhàn, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
82. Nguyễn Kim Chi, Nghệ sĩ ưu tú, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
83. Nguyễn Huy Hoàng, hưu trí, Sài Gòn
84. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Đà Lạt
85. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí, Đà Lạt
86.Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy TP Đà Lạt, Lâm Đồng
87. Lê Phú Khải, Nhà báo, TV CLB LHĐ, Sài Gòn
88. Vũ Công Minh, Cử nhân Tài chính, Tp Hải Dương
89. Trần Thanh Vân, Kiến trúc sư, Hà Nội
90. Đào Đình Bình, Kỹ sư- hưu trí, Hà Nội
91. Nguyễn Mê Linh, TS, An Phú, Q2, TpHCM
92. Đồng Quang Vinh, hưu trí, Khánh Hòa
93. Cấn Thị Thêu, Dương Nội, Hà Nội
94. Trịnh Bá Phương, Dương Nội, Hà Nội
95. Trần Ngọc Anh, Dân oan, Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu


Tổ chức và Cá nhân Ký tên đợt 2 (đến 12 giờ ngày 16/4/2018):

Tổ chức:

5. Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm. Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Linh mục Phan Văn Lợi.
6. Tăng Đoàn GHPGVNTN, Thích Không Tánh đại diện.
7. Hội Bầu bí tương thân, đại diện: Nguyễn Lê Hùng
8. Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, do Nguyễn Văn Hải đại diện.
9. Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: GS Phạm Xuân Yêm (Paris) và GS Nguyễn Huệ Chi (Hà Nội)


Cá nhân:
96. Lê Tuấn Huy, TS, TP HCM
97. Bùi Hồng Mạnh, Cử nhân Hóa học, Phiên dịch, Biên khảo, Blogger, CHLB Đức.
98. Nguyễn Ngọc Bộ, Kỹ sư, Canada
99. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc sở Tư pháp TPHCM
100. Đoàn Hòa, dịch thuật - tư vấn, Cộng Hòa Séc 
101. Bùi Hiền, hưu trí, Canada
102. Bùi Nghệ, nghề nghiệp tự do, cư trú ở SG
103. Nguyễn Viết Tuấn, Nam Từ Liêm, Hà Nội
104. Nguyễn Tường Thụy, Nhà báo độc lập, Hà Nội
105. Đặng Đăng Phước, Giáo viên, Tp Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk
106. Hà Thúc Huy, Tiến sĩ Hóa học, Q. 5, Sài Gòn
107. Đỗ Thị Bắc Giang, Kế toán, TP. Hồ Chí Minh 
108. Trần Trung Sơn, Tiến sỹ kỹ thuật, Giảng viên, Nha Trang, Khánh Hoà
109. PhLoan Wade, Y tá, Oregon USA
110. Matt Wade, Nhân viên trường đại học, Oregon, USA
 
111. Ninh Nguyen, Hưu trí, Oregon USA
 
112. Cuc Nguyen, Hưu trí, Oregon USA
 
113. Duy Lương, Doanh nhân tự do ở Cộng hoà Séc 
114. Nguyễn Thi, Nhà báo, Praha, CH. Séc
115. Vũ Đình Công, Hưu trí, Hải Phòng
116. Vũ Ngọc Lân, Kỹ sư luyện kim Hà nội
117. Trương Thanh-Đạm, Doctor, Associate Professor (retired) International Institute of Social Studies, Erasmus University Rotterdam, the Netherlands.
118. Antôn Lê Ngọc Thanh, Linh mục DCCT Sài Gòn
119.  Ngô Thanh Loan, cựu nhà giáo, Sài Gòn
120. Ý Nhi, Nhà thơ, TP Hồ Chí Minh
121. Nguyễn Văn Hải, Blogger Điếu Cày, Garden Grove California, Hoa Kỳ
122. Phạm Văn Hiền, phòng thông tin - tư liệu trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng (đã nghỉ hưu).
123. Thái Văn Dậu, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
124. Nguyễn Văn Danh, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
125. Huỳnh Văn Nghiệp, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
126. Thái Văn Thiện, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
127. Thái Thị Hò, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
128. Võ Văn Tấn, nông dân, dân oan khu liên hợ Bình Dương.
129. Võ Thị Thu, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
130. Lê Văn Việt, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
131. Nguyễn Văn Giới, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
132. Lê Thị Muôn, nông dân, dân oan khu liên hợp, Bình Dương.
133. Nguyễn Thị Bẩn, nông dân, dân oan khu liên hợp.Bình Dương.
134. Phan Thị Lập, nông dân, dân oan khu liên hợp.Bình Dương
135. Nguyễn Thị Bân, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
136. Nguyễn Ngọc Thạch, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
137. Nguyễn Ngọc Trí, nông dân, dân oan khu liên hợp Bình Dương.
138. Nguyễn Huệ Chi, GS Ngữ văn, Hà Nội
139. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội
140. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa, Australia 


Mời quí vị quan tâm tiếp tục ký tên. Xin ghi rõ họ tên, nghề nghiệp/ chức danh (nếu có), địa chỉ cư trú (tỉnh/thành phố Việt Nam, hoặc tên quốc gia ngoài Việt Nam). Xin gửi về địa chỉ: tuyenbodongtam@gmail.com


Gramcsi, mặt trận văn hóa




Từ Thức


Trước GRAMSCI, có người nghĩ văn hoá giải thích tất cả. Sau Gramsci, người ta BIẾT văn hóa giải thích tất cả, quyết định tất cả. Antonio Gramsci, một lý thuyết gia chính trị Ý, ít được nhắc tới ở VN, trước đây là cẩm nang của những phong trào chính trị, cách mạng trên thế giới, ngày nay là tác giả gối đầu giường của các chính trị gia, thuộc mọi khuynh hướng, từ cực tả tới cực hữu, ở Âu Châu.



Gramsci (1891-1937) đã hệ thống hóa lý thuyết dùng văn hóa để giải thích xã hội, chính trị và, từ đó, coi văn hóa là vũ khí để đấu tranh. Những yếu tố khác, đứng đầu là kinh tế, chỉ là thứ yếu.

Muốn thay đổi xã hội, không thể hà tiện một cuộc cải cách văn hoá từ gốc rễ. Phải thay đổi tư duy, nếu muốn thực sự thay đổi xã hội. Nếu không, sẽ chỉ là những cuộc nổi loạn, những cuộc đảo chánh.

TRANH TỐI TRANH SÁNG

Gramsci trước hết là một người quan sát xã hội với cái nhìn sâu sắc. Hãy thử dùng một câu nổi tiếng nhất của Gramsci để giải thích hiện trạng băng hoại của xã hội VN ngày nay.

Gramsci: «Cái khủng hoảng nằm trong hiện tượng thế giới cũ đang chết trong khi thế giới mới chưa thành hình. Trong tình trạng tranh tối tranh sáng đó, người ta chứng kiến những hiện tượng bệnh hoạn dưới mọi hình thức» (La crise consiste dans le fait que le nouveau monde se meurt et que le nouveau tarde à apparaître, et dans ce clair-obscur surgissent les phénomènes morbides les plus variés).

Chế độ Cộng sản đang chết, nhưng chế độ dân chủ chưa thành hình, xã hội khủng hoảng băng hoại. Người ta chứng kiến những hiện tượng bệnh hoạn mỗi ngày, trước mắt: bộ trưởng Y tế đồng lõa làm thuốc giả ; ‘học giả’ cải đổi chữ quốc ngữ cho giống tiếng Tàu; một đám no cơm ấm cật nhảy múa tại nơi và ngày đáng lẽ là nơi và ngày tưởng niệm những đồng bào đã bị giặc Tàu thảm sát; nhà nước vũ trang cướp đất của dân; quân đội thay vì chống ngoại xâm giữ nước đã tổ chức đội ngũ dư luận viên để ‘chiến đấu’ chống tử thù là những người còn có chút lòng với đất nước ; những cảnh sư quốc doanh nhảy nhót trác táng một cách thô bỉ ; và, ở hải ngoại, những tổng thống tự phong thi nhau múa may, quay cuồng.

Một thí dụ điển hình nhất là chuyện cô giáo bị bắt quỳ. Một ‘chuyện dưới huyện’ nhưng cho thấy cả một xã hội băng hoại. Một cán bộ quèn, nghĩ có thẻ Đảng là có quyền sinh sát, một cô giáo không còn tự trọng, một hiệu trưởng sẵn sàng cộng tác làm chuyện thô bạo để bảo vệ nồi cơm, những đồng nghiệp bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để được yên thân, một nền giáo dục lạc hậu thầy giáo bạo hành (bắt học sinh quỳ) thay vì hướng dẫn, dạy dỗ.

Những hiện tượng mà Gramsci gọi là ‘monstrueux’ (quái dị) của thời tranh tối tranh sáng, xảy ra mỗi ngày, trước mắt.

Nếu thời gian tranh tối tranh sáng kéo dài quá lâu, những hiện tượng đó dần dần trở thành bình thường. Trong một xã hội bệnh hoạn, không chuyện gì đáng ngạc nhiên nữa, không cái gì trơ trẽn, lố bịch nữa. Người ta hết cả khả năng bất bình.

VÔ CẢM

Người ta nói rất nhiều tới hiện tượng vô cảm trong xã hội VN. Nhiều người tìm hiểu tệ trạng vô cảm, nhưng có lẽ ít người giải thích ngắn gọn hơn Gramsci: ‘Cái bất hạnh có hai hậu quả: thường thường nó dập tắt tất cả tình thương của chúng ta đối với người bất hạnh, và, không hiếm hơn, nó dập tắt tình thương nơi những người bất hạnh đối với những người bất hạnh hạnh khác’ ( 1).

GRAMCISME

Rất khó tóm tắt lý thuyết của Gramsci, cũng như rất khó tóm tắt lý thuyết Marx. Raymond Aron nói cái lợi hại của chủ nghĩa Marx là người ta có thể ‘giải thích trong 5 phút, 5 giờ, 5 ngày, 5 tháng, 5 năm hay 5 thế kỷ’.

Hãy tạm tóm tắt lý thuyết Gramsci (Gramscisme, Gramscism) trong 5 phút, qua hai từ: HÉGÉMONIE CULTURELLE (lãnh đạo văn hóa). Người ta có thể chiếm chính quyền bằng võ lực, nhưng chỉ có thể tồn tại và cải tiến sâu rộng xã hội qua văn hóa.

Gramsci phân biệt xã hội ra hai thành tố mà ông gọi là (1) Société politique, hay pouvoir politique (xã hội chính trị, quyền lực chính trị) và (2) Société civile (xã hội dân sự).
Pouvoir politique, hay quyền lực chính trị, bao gồm các cơ chế nhà nước , bộ máy chính quyền: chính phủ, quân đội, công an, cảnh sát… Société civile, hay xã hội dân sự, là tất cả những gì thuộc địa hạt tư nhân, lãnh vực tinh thần, sở hữu của mỗi cá nhân, địa hạt của văn hoá, tôn giáo, tri thức, đạo đức, nhân sinh quan, triết lý sống tiềm tàng trong một xã hội. Tóm lại: tư duy của một dân tộc.

Lật đổ một chính phủ, một tập đoàn cầm quyền, chiếm pouvoir politique, chỉ là một cuộc đảo chánh.

Muốn bền vững, muốn thay đổi xã hội, phải đấu tranh và chiến thắng trên địa hạt văn hóa, phải nắm société civile, phải thay đổi tư duy. Phải đặt một nền tảng văn hóa mới.
Chính quyền phải được một sự hậu thuẫn ngầm, đương nhiên, của một xã hội cùng chia sẻ những giá trị tinh thần tiềm tàng, sâu kín trong tiềm thức của một dân tộc.

Gramsci giải thích tại sao cách mạng ‘vô sản’ chỉ thành công ở Nga nhưng thất bại ở Âu Châu. Bởi vì trong xã hội Nga, và nói chung, xã hội Đông phương, nhà nước là tất cả, xã hội dân sự còn sơ khai , chỉ cần chiếm vài cơ sở huyết mạch là chiếm được quyền lực.

Trái lại, ở các nước Tây phương, xã hội dân sự, nói khác đi, quyền lực văn hoá phức tạp, sâu xa (với văn chương, nghệ thuật, triết học…), xã hội dân sự phong phú (với các hội đoàn, các nghiệp đoàn, báo chí, đảng phái…), nắm được chính quyền không dễ, áp đặt một chế độ mới là chuyện không thể xảy ra.

Chính vì vậy, Cộng sản chỉ cần chiếm vài cơ sở chính yếu ở Nga đã thành công trong cách mạng 1917, người dân hầu như không hay biết gì. Nhưng sau đó, vì không có cội rễ văn hóa, không có sự đồng thuận tư duy, Staline không có cách gì khác hơn để duy trì quyền lực là sự khủng bố (terreur).

Không có đồng thuận, nhà nước phải dùng terreur. Nhưng người ta không xây dựng gì trên sự khủng bố. Tất cả tài nguyên, nhân lực quốc gia chỉ dành cho ưu tiên hàng đầu: củng cố guồng máy đàn áp. Guồng máy quốc gia tê liệt, kinh tế khủng hoảng, luân lý suy đồi, xã hội băng hoại.

HAI CHÂN

Trong một xã hội có dân trí cao, không thể có quyền lực chính trị lâu dài, nếu trước đó không chuẩn bị, đặt nền móng văn hóa. Nhận xét này của Gramsci giải thích tại sao ở nhiều nước Phi Châu hay Á Châu, thường trực có những cuộc đảo chánh, trong khi ở một xứ dân trí cao, không ai nghĩ đến việc lật đổ chính quyền bằng bạo lực. Không phải bởi vì có chế độ dân chủ, nhưng bởi vì có sự đồng thuận về dân chủ, có văn hóa dân chủ.

Gramsci nói một cuộc cách mạng, muốn bền vững, phải đứng trên hai chân: nắm những cơ cấu chính quyền và thành công trong việc đặt nền tảng văn hóa, qua mọi sinh hoạt có ảnh hưởng tới tư duy (báo chí, kịch nghệ, văn chương, tôn giáo, triết học…).

Nắm quyền không phải chỉ một cuộc nổi dậy, nhưng là cả một cuộc chuẩn bị văn hóa để đa số đồng thuận trên những giá trị tinh thần chung.

Gramsci quả quyết muốn nắm được đa số chính trị (majorité politique), phải có đa số ý thức hệ (majorité idiologique), bởi vì chỉ khi nào xã hội bị gặm nhấm bởi những ý tưởng mới, khác hẳn ý tưởng họ có trong đầu, kết quả của giáo dục, của môi trường xã hội, hay của chính sách nhồi sọ, lúc đó nên tảng chế độ hiện hữu mới lung lay, người dân mới sẵn sàng tiếp nhận và ủng hộ những thay đổi.

GRAMSCI, ÔNG LÀ AI?



Antonio Francesco Sebastino Gramsci sinh năm 1911 tại Sardaigne, là người Ý gốc Albanie. Ông nội của Antonio phục vụ trong ngành cảnh sát Ý, kết hôn với một phụ nữ Ý và định cư ở Gaète (gần Naples). Bị lao xương từ năm ba tuổi, nhưng không thuốc men và chỉ được chẩn bịnh khi ở trong tù, suốt đời bịnh tật, khiến thân thể không lớn được, nhưng trí óc minh mẫn khác thường, khiến ông được nhiều học bổng tại các đại học có uy tín và tiếp xúc vói nhiều tri thức.
Chống phát xít một cách tích cực, Gramsci gia nhập đảng Cộng sản quốc tế ở một thời đại Cộng sản là lực lượng chống phát xít hữu hiệu nhất, và chưa ai biết gì về Goulag.

Gramsci bất đồng với cả Staline và khuynh hướng xét lại, về nhiều vấn đề. Có lẽ vì vậy mà Đảng Cộng sản đã im lặng khi ông bị phát xít Ý cầm tù.
Gramsci bị kết án phản loạn, nhưng mục đích chính của Mussolini khi bỏ tù Gramsci là ‘ngăn cản bộ óc Gramsci phát triển’. Nhưng đó là ảo tưởng. Giam giữ, tàn phá thân thể không cấm được bộ óc hoạt động. Nhiều khi kết quả ngược lại, nhất là với những bộ óc như Antonio Gramsci, Stephen Hawking.

Bị bắt giam từ 1927, ông chết trong tù năm 1937, hưởng thọ 46 tuổi, nhưng trong mười năm ngồi tù, Gramsci say sưa, cặm cụi viết 33 tập sách nhỏ, gọi là Cahiers de Prison (Prison Notebooks, Ghi chú trong tù). Gramsci nói muốn viết một tài liệu để đời. Những trang viết tay, trên những tập vở học trò, được xuất bản năm 1940, Cahiers de Prison đã gây tiếng vang lớn, một ảnh hưởng đáng kể trên khắp thế giới, đã hướng dẫn những phong trào chính trị từ Ấn độ, Phi Châu tới Nam Mỹ từ 1920.

TỪ TẢ TỚI HỮU

Gramsci là một trí thức thiên tả, nhưng ngày nay, lý thuyết Gramsci được học hỏi, áp dụng từ tả sang hữu, từ cực tả tới cực hữu.

Ở Pháp chẳng hạn, không có chính trị gia nào, đảng phái nào không trích dẫn, nghiên cứu Gramsci. Sarkozy, cựu Tổng thống hữu phái nói: ‘Tôi đồng ý với Gramsci: quyền lực chỉ có thể chinh phục qua tư tưởng’. Đảng Xã hội tổ chức những buổi hội luận về Gramsci. Đảng Cộng sản đã học tập Gramsci từ lâu. Lãnh tụ cực tả Jean Luc Mélenchon, áp dụng lời khuyên của Gramsci, đã lập một đài truyền hình riêng (Le Média) và những khoá huấn luyện cán bộ để vũ trang tư tưởng. Marion Le Pen, cực hữu, dự tính mở trường để đào tạo đảng viên có ý thức văn hóa, thấm nhuần tư duy cực hữu.

Tất cả đều đồng ý: nếu chỉ nghĩ tới bầu cử, sinh hoạt hời hợt, những chiến thắng đạt được chỉ là những chiến thắng nhất thời. Chiến thắng trong một cuộc bầu cử này, một cuộc bầu cử khác sẽ đạp đổ.

Chỉ có một chiến thắng lâu dài, nếu tạo được một nền tảng văn hóa, trong tư duy của mỗi công dân, ít nhất nơi đa số công dân.

Phải làm thế nào để đa số người dân đồng thuận trên những giá trị tinh thần chung. Nếu cử tri tin tưởng ở bậc thang giá trị hữu phái, anh ta sẽ bầu cho hữu phái, anh ta sẽ lựa chọn ứng cử viên hữu phái hợp ý nhất, nhưng không bao giờ nhìn sang bên cạnh.

Nếu không có văn hoá, tư duy tả hay hữu, anh ta sẽ lang thang, đổi ý, đổi phe, tùy cơ hội, hoàn cảnh.

Một người còn tin tưởng ở chủ nghĩa Cộng sản, sẽ tìm mọi cách bào chữa cho các chế độ CS, trước những bằng chứng hiển nhiên về sự tệ hại của chế độ, anh ta sẽ đi tới lý luận cuối cùng: đó chỉ là sự sai lầm của người thi hành, không phải của chủ nghĩa.

Trong trường hợp VN, phải đưa tới đồng thuận: con đường sống của đất nước là những giá trị nhân bản, tôn trọng tự do và nhân phẩm.

MẶT TRẬN VĂN HÓA TRƯỜNG KỲ

Alain de Benoist, lý thuyết gia cực hữu số một của Pháp, nghiên cứu và dùng Gramsci như một phương tiện để dành đất với phe tả.

Benoist nói nước Pháp, nhất là trí thức, có khuynh hướng khuynh tả vì đó là kết quả một mặt trận văn hóa trường kỳ. Cách mạng 1789 chỉ có thể thành hình bởi vì ý tưởng cách mạng đã được gieo rắc từ những năm Ánh sáng (années des lumières), trong hàng ngũ trí thức, quý tộc, trưởng giả, là những trung tâm quyết định.

Benoist diễn giải Gramsci: Trong tưong lai, sẽ không còn là những cuộc giáp chiến, nhưng là những cuộc chiến tại chỗ.

Mỗi phe tìm cách bành trướng ảnh hưởng của mình. Yếu tố quyết định của trận chiến đó, Gramsci gọi là ‘guerre de positions’ (chiến tranh vị trí), trái với ‘guerre de mouvement’ (chiến tranh di động), trong đó vũ khí là văn hóa. Văn hoá được coi là địa bàn hoạt động, bộ tổng tham mưu (2).

Khi tư duy đó đã trở thành mẫu số chung, người ta sẽ phân tách thời cuộc, thời sự, lịch sử dưới lăng kính đó. Đưa những dữ kiện khách quan không đủ thuyết phục, phải thay đổi tư duy.

Phong trào nổi loạn tháng Năm 1968 (thường được gọi là ‘Mai 68’) mà nước Pháp sắp kỷ niệm 50 năm, đã thay đổi xã hội Pháp, và, trên địa hạt chính trị, đã củng cố tư duy thiên tả của trí thức Pháp. Người ta nhìn chiến tranh Việt Nam chẳng hạn, qua lăng kính đó, bất chấp những dữ kiện khách quan. Ngày nay, cái nhìn đó đã thay đổi, tư duy thiên tả không còn là đa số, một phần nhờ sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, những hình ảnh bi thảm của boat people, nhưng cũng nhờ những ‘guerre de positions’ trường kỳ của các triết gia, trí thức như Raymond Aron, Jean François Revel, Francois Furet…



Biểu tình ở đại lộ Champs Elysées

Tư tưởng là chuyện viển vông, nhưng trong lịch sử, bao giờ tư tưởng cũng dẫn đường nhân loại. Tới ánh sáng hay tới vực thẳm. Những tranh đấu thường nhật, khẩn cấp là chuyện cần thiết, phải có, đáng khâm phục, nhưng không thể bỏ qua việc xây dựng một cơ sở lâu dài.

Để nói về những hiện tượng thay đổi chính trị nhất thời, Gramsci dùng chữ ‘Césarisme’.

Những lãnh tụ (César) nhờ tài năng, nhờ cá tính mạnh, có khả năng thu hút quần chúng, nắm được chính quyền, nhưng không có căn bản dân sự hỗ trợ, sẽ chẳng làm được gì, sẽ bị các Césars khác lật đổ, thay thế. Trước sự thờ ơ của dân chúng. Lãnh tụ giỏi không đủ, nếu không có chuẩn bị văn hoá, nền tảng dân sự.

TƯ DUY DÂN CHỦ

Trở về với VN, người ta có thể rút tỉa gì từ Gramsci? Khi nào tư duy của một dân tộc bị nhồi sọ gần một thế kỷ chưa thay đổi, chuyện thay đổi sẽ còn gian nan. Có thể những người bất mãn với chế độ Cộng sản càng ngày càng đông, nhưng người ta khó xây dựng gì vững vàng trên sự chống đối. Chỉ có thể xây dựng xã hội mới trên tư duy mới, khi đa số tin tưởng ở những giá trị mới.

Người dân chỉ chủ động trong việc xây dựng dân chủ, khi nghĩ dân chủ sẽ thay đổi cụ thể đời sống cuả mình, tương lai của con cháu mình. Khi nào những ý niệm dân chủ chỉ là những khẩu hiệu, sự thờ ơ vẫn còn, và chính sách khủng bố vẫn hữu hiệu.

Tóm lại, mặt trận văn hóa luôn luôn là một ưu tiên, ngay cả trong hoàn cảnh cấp bách.

Ismaïl Kadaré, nhà văn hàng đầu của Albanie, nói: ngay cả trong những lúc khốn cùng, người ta cũng phải có thái độ trân trọng đối với văn hóa.

Có lẽ chữ văn hóa hơi quá mênh mông trong trường hợp Gramsci. Ông là một lý thuyết gia chính trị, thực tiễn hơn: Gramsci nhấn mạnh tới vai trò của xã hội dân sự. Khi nào một xã hội có những tổ chức dân sự phong phú, và tất cả có chung một giá trị tinh thần, xã hội đó có cơ sở vững chắc để đổi dạng.

T.T.
(1) ‘Le malheur a habituellement deux effets: souvent il éteint toute affection envers les malheureux, et non moins souvent, il éteint chez les malheureux toute affection envers les autres’. Gramsci

(2) L’avenir n’est plus à la guerre de mouvement, mais à la guerre de positions. Et l’enjeu de cette ‘guerre de positions’ est la culture, considérée comme le poste central de commandement et de spécification des valeurs et des idées. Alain de Benoist

Tác giả gửi BVN

43 năm sau 30/4, đất nước ta hiện ra sao?



Bùi Tín - VOA

Đây là một câu hỏi rất quan trọng, mỗi công dân có trách nhiệm, từ quan chức đến phó thường dân, cần chung sức góp ý để đạt đồng thuận chung nhằm đưa đất nước khỏi bế tắc và lạc hậu hiển nhiên hiện nay.
Không một ai có trách nhiệm có thể cho rằng từ sau ngày 30/4 - gọi là ngày «Giải phóng miền Nam Thống nhất Tổ quốc» - đất nước ta đã phát triển mạnh mẽ, tòan dân đã được hưởng trọn vẹn độc lập, tự do dân chủ nhân quyền, bình đẳng và hạnh phúc.
Hơn lúc nào hết mỗi người Việt hãy nhìn thẳng vào những sự thật hiển nhiên. Càng là bộ máy lãnh đạo đảng lại càng phải nhìn nhận chính xác chân thật.
Điều cay đắng nhất là nền độc lâp dân tộc giành được từ tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, với hàng triệu con em người Việt của các bên bị hy sinh đã bị ban lãnh đạo cộng sản thay thế bằng chế độ ‘Bắc thuộc mới’ qua cuộc mật đàm Thành Đô tháng 9/1990. Từ đó đến nay đất nước bị gặm nhấm có hệ thống, từ đất liền, vùng biển, hải đảo; người Trung Quốc hầu như tự do nhập vào biên giới, mang Nhân dân tệ hình Mao cùng mọi thứ hàng hóa, hàng giả, hàng dỏm, hàng cấm, hàng độc hại tràn ngập đất nước ta. Chúng có mặt khắp nơi, trồng rừng quy mô lớn, khai thác nhiệt điện, thủy điện, các mỏ quặng, tàn phá môi trường ven biển, lập phố xá, cửa hàng cửa hiệu như ở quê hương chúng.
Không ít trong bọn chúng là bọn tội phạm lưu manh bất lương đe dọa an ninh nhân dân ta. Bộ sậu lãnh đạo CHXHCN VN phải ngậm bồ bồn làm ngọt, coi bọn xâm lược láo xược hung hãn phương Bắc như bạn thân quý nhất, như ông chủ đáng kính sợ nhất. Nền độc lập dân tộc bị mất dần mòn là nguy cơ lớn nhất, là mối ô nhục lớn nhất của người Việt hiện nay, không một ai có thể cho qua.
Trong khi lãnh đạo đảng Cộng sản trở nên hèn với giặc ác với dân, đàn áp không chút ngần ngại các chiến sỹ yêu nước kiên cường bất khuất chống bành trướng như Trần Hùynh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nhuyễn Ngọc Như Quỳnh… thì đảng cũng đồng thời biến chất, càng chỉnh đốn lại càng đổ đốn, trở nên một kiểu maphia tội ác, tham nhũng tràn lan, đua nhau tàn phá chia chác mọi nguồn tài sản quốc gia, ăn cắp của nước của dân không chừa một thứ gì, từ nhà đất, ruộng vườn, rừng cây, lập nên những biệt thự, biệt phủ xa hoa giá trị hàng chục tỷ.
Theo đà suy thóai của đảng, bộ máy Nhà nước trở thành bộ máy tội ác, các công ty, tổng công ty quốc doanh, các hệ thống ngân hàng bị tước đọat, phá sản hàng lọat, với hàng chục vụ đại án, hàng trăm tên bị cáo bị điều tra xét xử, trong đó có cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên TƯ, bí thư thành ủy, tỉnh ủy, hàng lọat thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng chống tội phạm tự chuyển biến thành tội phạm với những bản án biển thủ cực lớn hàng nghìn tỷ đồng…
Trong mấy chục năm suy thoái và tha hóa của đảng và nhà nước, xã hội cũng bị ruỗng nát theo. Lực lượng an ninh lẽ ra là lá chắn bảo vệ dân, là thanh bảo kiếm trừng trị bọn gian ác lại trở thành thế lực đàn áp dân, đánh dập dân, như gây thương tật cho cô Đoan Trang, gây nên hàng 30 người chết trong đồn công an trong năm qua.
Công an là bọn kiêu binh nêu gương rất xấu mọi nơi. Công an có ngân sách thuê bọn du côn mất dạy theo dõi từng bước các chiến sỹ dân chủ không cho ra khỏi nhà đi họp, đi biểu tình; khen thưởng chúng nếu chúng ra tay đàn áp, cứ mỗi lần lập công ở Hà Nội, Sài gòn, Đà Nẵng chúng được thưởng 500.000 đồng, ở các quận huyện mỗi tên được 300.00 đồng. Đến nay sự chỉnh đốn toàn ngành Công an đã quá ư chậm trễ.
Trong khi đó nền giáo dục bệ rạc, mất phương hướng, chạy theo mua bán bằng cấp, thầy cô giáo bắt học trò quỳ, phụ huynh học sinh là đảng viên xông vào nhà trường chửi bới cô giáo bắt quỳ đến mức gần sẩy thai!
Đạo đức học đường lao dốc khi sinh viên học sinh chửi bới đâm chém cô giáo.
Đạo đức gia đình thê thảm khi vợ chồng giết nhau, ông hiếp dâm cháu.
Y đức không còn lương tâm khi Bộ Y tế buông lỏng quản lý thuốc men cho hàng độc dược tràn lan, bệnh viện chen chúc hai ba người bệnh chung một giường.
Trên đây là bức tranh bi đát toàn cảnh đất nước ta 43 năm sau ngày ‘lịch sử 30/4’. Thành tích vĩ đại hay thất bại nặng nề?
Theo thống kê của LHQ, Việt Nam hiện nay vẫn còn lạc hậu về nhiều mặt, tự do ngôn luận, tự do báo chí đứng thứ 175 trên 186 nước. Tự do tôn giáo ở trong số 60 nước bị mất tự do nặng nề nhất. Thu nhập bất công, còn rất xa mới được như các nước Bắc Âu, nơi hầu như không có nạn tham nhũng.
Không gì nhục bằng người Việt Nam có tỷ lệ phạm pháp cao nhất Đông Nam Á, ăn cắp vặt nhiều nhất ở các siêu thị Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, hộ chiếu ngoại giao Việt Nam bị kém giá trị nhất.
Về thu nhập bình quân đầu người, VN còn cách xa Thái Lan và Indonexia, phải 8 năm mới ngang Thái Lan, phải 12 năm mới ngang Indonexia hiện nay.
Nghĩ mà đau, nghĩ mà buồn, Đất nước mình kỳ quá phải không anh? Bài thơ cô giáo Trần Thị Lam xóay sâu vào tấm lòng quặn đau của mỗi công dân.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng rất đau đớn khi “nhìn tới đâu cũng phải kìm cơn mửa, Khi một thời bọn đểu đã lên ngôi”.
Tất cả mọi nguyên nhân đều từ do đảng mà ra?
Nguyên nhân của những nguyên nhân là đường lối chính trị sai lầm tận gốc; là chủ nghĩa Mác - Lê đã bốc mùi; là chế độ toàn trị độc đảng theo luật rừng xanh, vô pháp, vô đạo, vô luân; là sự giả dối che dấu sự thật, lừa mỵ nhân dân, nói một đằng làm một nẻo.
Nếu Bộ Chính trị hãy còn có lương tâm và đạo đức, nhân dịp này, hãy mở một cuộc hội họp dân tộc, lắng nghe những người bất đồng chính kiến trong các tổ chức xã hội dân sự trong và ngoài nước góp ý, phê bình, kiến nghị, đấu trí, đấu lòng yêu nước, thương dân lại để tìm ra con đường chính trị và các chính sách kinh tế, tài chính, văn hóa, quốc phòng, đối ngọai cho đất nước mình, cho nhân dân mình.
Cuộc họp dân tộc này sẽ quan trọng hơn cuộc họp TƯ 7, càng quan trọng hơn một phiên họp Quốc hội, nó sẽ là đôi đũa thần tạo nên cuộc hòa giải hòa hợp dân tộc tối cần thiết, mở đường cho Kỷ nguyên tự do dân chủ của dân tộc ta gắn bó với thời đại mới từ trong năm 2018 này.
B.T.
Tác giả gửi BVN